Website đang hoạt động thử nghiệm

Sữa và các sản phẩm sữa

TỔNG QUAN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA

















1. Vị trí của ngành
     1.1 Vị trí của ngành trong nền kinh tế Việt Nam
Ngành công nghiệp sản xuất, chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa của Việt Nam những năm gần đây có sự phát triển năng động, cung cấp nhiều sản phẩm đa dạng cho đời sống kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu trong nước, từng bước thay thế các mặt hàng sữa nhập khẩu và tham gia xuất khẩu với sự đa dạng về mẫu mã và chủng loại. Bên cạnh đó, ngành đã có nhiều đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, tạo nhiều việc làm cho người lao động, góp phần bảo đảm đời sống nhân dân và ổn định tình hình xã hội, trở thành một mắt xích quan trọng của nền nông nghiệp Việt Nam.
Do thuộc nhóm sản phẩm thiết yếu, nên dù trong những năm kinh doanh ảm đạm của các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế, các doanh nghiệp ngành sữa vẫn giữ tăng trưởng mạnh với mức 2 con số. Trong những năm tới, việc dân số tăng, thu nhập người dân tăng kéo theo chi tiêu nhiều hơn, và những quan tâm ngày một nhiều của người Việt Nam về các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, ngành sữa được kỳ vọng sẽ còn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng này. Ngành sữa Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển và đang được các nhà đầu tư trong và ngoài nước chú trọng.
Tuy nhiên, sự phát triển của ngành hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của thị trường trong nước bởi hiện nay nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm trong ngành vẫn còn rất lớn.

Tình hình sản xuất
Sản xuất sữa trong nước tại Việt Nam không thể bắt kịp với nhu cầu gia tăng trong nước. Từ năm 2001 – 2014, sản xuất sữa trong nước tăng trưởng 26,6%/năm, đạt 456.400 tấn năm 2013, chỉ đủ đáp ứng 28% nhu cầu trong nước và đạt 549.500 tấn vào năm 2014. Hai mảng chính dẫn dắt sự tăng trưởng của toàn ngành sữa trong nước và cũng là 2 mặt hàng quan trọng nhất là sữa nước và sữa bột. Riêng tổng giá trị trường của 2 mảng này đã chiếm gần 3/4 giá trị thị trường, trong đó, giá trị sữa bột chiếm 45% và sữa nước 30%. Năm 2015 vừa qua cũng ghi nhận mức sản lượng sản xuất sữa các loại này cao nhất từ trước đến nay.
Thị phần sữa bột phần lớn do các doanh nghiệp nước ngoài như Abbott, Friesland Campina Vietnam và Mead Johnson nắm giữ do người tiêu dùng Việt Nam vẫn sẵn sàng trả giá cao cho thương hiệu sữa ngoại. Trong khi đó, đối với mặt hàng sữa nước, ngoài Vinamilk chiếm trên 50% thị phần, còn có sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp khác như TH Milk, Nutifood, IDP, Hanoi Milk…
Tính chung giai đoạn 2010-2015, sản lượng sản xuất sữa tươi tăng trung bình 16%/năm, từ mức 520,6 triệu lít năm 2010 lên 1.093 triệu lít năm 2015; Sữa bột có lượng sản xuất đã trở lại đà tăng sau năm 2014 bị giảm, đạt 97,3 nghìn tấn, tăng 19,5% so với năm 2013, sản lượng sản xuất sữa bột tăng trung bình 10,5%/năm, từ mức 58,9 ngàn tấn năm 2010 lên mức 97,1 ngàn tấn năm 2015. Theo Tổng Cục Thống kê, năm 2015 ngành sữa Việt Nam đã ghi nhận mức sản lượng sản xuất sữa các loại cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, chủ yếu tập trung vào những tên tuổi như: Vinamilk, Công ty CP Thực phẩm Sữa TH, Công ty CP Thực phẩm Dinh dưỡng Đồng Tâm 3A (Nutifood), Công ty CP Sữa quốc tế IDP, Công ty TNHH Dinh dưỡng 3A, Công ty CP Sữa Hà Nội… Năm 2016, sản lượng và mức tiêu thụ các sản phẩm sữa tiếp tục khởi sắc.

Sản lượng sản xuất sữa giai đoạn 2010-2015

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê


Tháng 6/2016, sản lượng sữa tươi ước đạt 99,1 triệu lít; tăng 1,3% so với tháng 5 trước đó. Tính chung 6 tháng đầu năm 2016, sản lượng sữa tươi ước đạt 553,1 triệu lít; tăng 4% so với cùng kỳ năm 2015. 6 tháng đầu năm nay, lượng sản xuất 2 mặt hàng sữa này cũng đều cao hơn cùng kỳ năm ngoái, báo hiệu một năm tiếp tục tăng trưởng về sản lượng.

Sản lượng sữa tươi theo tháng trong năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016

 Đvt: triệu lít


 

Nguồn:Tổng cục Thống kê

Ở phân khúc sản phẩm giá trị cao là sữa bột, các doanh nghiệp sữa của Việt Nam lép vế so với các Công ty ngoại. Thống kê năm 2013 của hãng nghiên cứu thị trường Euromonitor International, các hãng ngoại chiếm khoảng 75% thị phần sữa bột, dẫn đầu là Abbott, tiếp theo là Mead Johnson, Dutch Lady, Dumex, Nestlé. Chỉ duy nhất niềm tự hào của Việt Nam, Công ty Vinamilk, có đủ khả năng cạnh tranh với thị phần xấp xỉ 25%.

Thị phần các nhãn sữa lớn tại Việt Nam năm 2013



Trong phân khúc quan trọng khác là sữa nước (sản phẩm chủ lực của ngành sữa), các Công ty Việt Nam đang tạm thời chiếm ưu thế với gần 50% thị phần trong tay Vinamilk. Bên cạnh đó, ưu thế về chi phí và thời gian bảo quản cũng đang giúp các Công ty Việt Nam làm chủ thị trường trong nhiều nhóm sản phẩm liên quan đến sữa khác như sữa thanh trùng, sữa chua, sữa đặc có đường, với hàng loạt các thương hiệu nội địa như Vinamilk, TH True Milk, Mộc Châu, Ba Vì, Dalatmilk, Lothamilk, Vixumilk, Nutifood.
Đa số các sản phẩm sữa tại Việt Nam được sản xuất cho trẻ em dưới 3 tuổi và người cao tuổi, trong khi thị trường lớn cho sữa tiêu dùng hàng ngày hay sữa cho người trưởng thành chưa được đầu tư mạnh. Nghiên cứu của Nguyễn Việt Khôi (2013) cho thấy, 10% dân số tại 2 thành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội và TP.HCM tiêu dùng đến 78% các sản phẩm về sữa. Đây là sự mất cân bằng trong nhu cầu các sản phẩm về sữa.
Số lượng bò sữa tại Việt Nam tăng khá nhanh trong những năm gần đây. Theo Tổng cục thống kê, tính đến thời điểm 1/10/2015, Việt Nam có khoảng 257,3 nghìn con bò sữa, tăng 21% so với năm 2014. Tính trong giai đoạn 10 năm gần nhất (2006 – 2015), lượng bò sữa tăng trưởng trung bình hơn 11%/năm. Quy mô đàn bò mở rộng là yếu tố tích cực thúc đẩy sản lượng sữa sản xuất tại Việt Nam có xu hướng tăng mạnh qua từng năm. 
Ngành sữa đang đẩy mạnh hiện đại hóa các trang trại bò sữa một cách nhanh chóng. Việt Nam cũng đề ra kế hoạch đáp ứng 60% nhu cầu trong nước đối với sữa tươi, tương ứng dự báo dân số tăng lên 113 triệu người vào năm 2045. Để đáp ứng mục tiêu này, đất nước cần phải phát triển số lượng bò sữa có khả năng sản xuất 5,65 triệu tấn sữa hàng năm.
Có khoảng 24.000 hộ gia đình tham gia chuỗi sản xuất chăn nuôi phục vụ ngành sữa. Đây là một lực lượng rất quan trọng giúp ngành sữa Việt Nam phát triển bền vững. Bởi chăn nuôi hộ gia đình quy mô vừa phải sẽ đỡ phải chịu áp lực về môi trường như các trang trại quy mô tập trung quá lớn. Theo Hiệp hội Sữa Việt Nam, nếu không phát triển chăn nuôi hộ gia đình mà chỉ tập trung vào phát triển trang trại quy mô lớn sẽ gặp rất nhiều khó khăn: thiếu đất đai, nông dân mất đất sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống mưu sinh, năng suất, bệnh tật và nhất là vấn đề môi trường.
Dự báo tăng trưởng sản lượng sữa Việt Nam từ năm 2015 – 2045 như sau:
- Giai đoạn 2015 – 2025: Tăng trưởng 12,0%/năm.
- Giai đoạn 2026 – 2035: Tăng trưởng 5%/năm.
- Giai đoạn 2036 – 2045: Tăng trưởng 3,0%/năm.
Đầu tư trang thiết bị và quản lý chất lượng: Nhiều doanh nghiệp trong ngành không ngừng đầu tư trang thiết bị hiện đại, cập nhật công nghệ tiên tiến để sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. 
Hầu hết các doanh nghiệp lớn trong ngành đều có hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO, HACCP... để sản xuất ra sản phẩm đạt chất lượng đảm bảo an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ tồn tại nhiều vấn đề về chất lượng và an toàn thực phẩm. 
Thực trạng về thiết bị, công nghệ và công tác quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất chế sữa cụ thể như sau:

Về thiết bị, công nghệ
Hầu hết các nhà máy sữa được đầu tư sau năm 1990 với quy mô đầu tư hoàn chỉnh và hiện đại. Dây chuyền thiết bị đồng bộ và công nghệ tiên tiến được nhập khẩu từ các nước có công nghệ và thiết bị ngành sữa phát triển như Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, Ý, Thụy Sỹ.… với dây chuyền sản xuất khép kín tự động và bán tự động. Các Công ty đã đầu tư chương trình điều khiển tự động vào dây chuyền công nghệ nhằm kiểm soát chặt chẽ các thông số công nghệ để sản phẩm sản xuất ra có chất lượng ổn định và đạt các chỉ tiêu như mong muốn.
Tập đoàn Tetra Pak (Thụy Điển) là tập đoàn chuyên cung cấp, lắp đặt các dây chuyền, thiết bị cho ngành sữa Việt Nam. Từ năm 2007 đến 2015, Tập đoàn Tetra Pak đã lắp đặt hệ thống máy đóng gói sữa tiệt trùng tự động cho hầu hết các nhà máy sữa (357 thiết bị); lắp đặt trọn vẹn 25 dây chuyền chế biến sữa tiệt trùng, 3 dây chuyền chế biến sữa chua, 3 dây chuyền chế biến sữa đậu nành; lắp đặt 32 thiết bị chính chế biến sữa tiệt trùng, 16 thiết bị chế biến sữa thanh trùng, 25 bồn vô trùng, 15 thiết bị trộn, 22 thiết bị CIP và 42 thiết bị đồng hoá. 
Đa số các Công ty sữa đầu tư nhập dây chuyền thiết bị đồng bộ nhưng cũng có Công ty chỉ nhập các thiết bị chính, còn các thiết bị khác như bồn chứa sữa, hệ thống lò hơi, hệ thống xử lý nước cấp… mua của các Công ty trong nước như Công ty Cơ Nhiệt Điện lạnh Bách khoa (POLYCO), Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh Eresson...
Trong lĩnh vực bao bì và đóng gói, những năm qua, các Công ty trong ngành đã không ngừng đầu tư đổi mới dây chuyền sản xuất đồng bộ, đầu tư đổi mới thiết bị hiện đại trong lĩnh vực đa dạng hoá bao bì sản phẩm, sử dụng bao bì giấy tiệt trùng để đóng gói sản phẩm. Loại bao bì này có cấu tạo đặc biệt 6 lớp giúp bảo vệ sản phẩm chống lại các ảnh hưởng có hại từ ánh sáng, không khí, độ ẩm trong không khí trong quá trình tồn trữ sản phẩm. Hiện nay, thị trường Việt Nam chỉ có hai nhà cung cấp độc quyền vỏ hộp giấy là Tập đoàn Tetra Park và Combiblock (Đức). Năm 2005, Công ty TNHH TP&NGK Dutch Lady Việt Nam (nay là Công ty FrieslandCampina Việt Nam) đã đầu tư dây chuyền đóng chai với công nghệ tiên tiến nhất thế giới. Năm 2008, Công ty CP thực phẩm Dinh dưỡng Đồng Tâm (Nutifood) đã đầu tư dây chuyền công nghệ sản xuất sữa bột mới nhất với hệ thống thiết bị của hãng WOLF (Đức) tự động hoàn toàn từ khâu vệ sinh, tiệt trùng lon đến khâu thành phẩm, bao gồm cả việc bơm khí trơ trong quá trình chiết rót nhằm hạn chế ôxy trong sản phẩm, tăng thời hạn sử dụng của sữa. Năm 2013, Vinamilk khánh thành Nhà máy sữa bột trẻ em Việt Nam có tổng vốn đầu tư gần 2.000 tỷ đồng, công suất 54.000 tấn sữa bột/năm và là một trong những nhà máy có công suất và mức độ tự động hóa cao, hiện đại nhất khu vực Châu Á. 
Về công nghệ sản xuất, sản phẩm sữa nước của Việt Nam hiện nay được chế biến và đóng gói dưới hai dạng là thanh trùng và tiệt trùng. Công nghệ tiệt trùng (UHT) được hiểu đơn giản là tiến trình xử lý nhiệt cho sữa ở nhiệt độ cao (130-150oC) trong thời gian rất ngắn (3-15 giây) trong môi trường vô trùng khép kín. Nhờ công nghệ này mà sữa tiệt trùng vẫn giữ được nhiều chất dinh dưỡng, có thể bảo quản ở nhiệt độ thường và thời hạn sử dụng có thể kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm. Sữa tươi thanh trùng được đun nóng ở nhiệt độ 85-90oC trong thời gian ngắn (30 giây – 1 phút) rồi làm lạnh ngay. Qua quá trình xử lý, hầu như toàn bộ vitamin và khoáng chất có trong sữa nguyên thủy vẫn được đảm bảo. Sữa thanh trùng phải bảo quản liên tục trong điều kiện lạnh (ở 4oC) và thời hạn dùng chỉ trong 7 ngày. 
Có thể tiến hành tiệt trùng và thanh trùng sữa trong bao bì hoặc ngoài bao bì sản phẩm. Khi tiến hành thanh trùng và tiệt trùng trong bao bì, người ta rót sữa vào bao bì thủy tinh hoặc bao bì nhựa, đóng nắp sau đó đưa vào thiết bị thanh trùng hoặc tiệt trùng. Còn khi tiến hành thanh trùng hoặc tiệt trùng ngoài bao bì ta sử dụng bao bì giấy. Sữa được bơm vào thiết bị xử lý nhiệt, đun nóng giữ nhiệt và làm nguội, sau đó được đưa vào thiết bị trung gian và bơm vào thiết bị rót sản phẩm. Toàn bộ bao bì, thiết bị trong dây chuyền rót, đóng nắp phải vô trùng. 
Trong sản xuất sữa chua, Việt Nam áp dụng nhiều công nghệ khác nhau để lên men sữa chua như sử dụng lên men tự nhiên chủng vi khuẩn lactic hoặc sử dụng enzim thủy phân sữa và bổ sung các chất phụ gia tạo độ đặc. Hỗ trợ cho công nghệ lên men sữa chua hiện đại tại các cơ sở lớn là hệ thống thiết bị lên men được điều khiển tự động để đảm bảo các thông số công nghệ về nhiệt độ lên men, chế độ thông khí, mật độ vi sinh vật, pH, chế độ thanh trùng… Các chủng vi khuẩn lên men sữa chua của các Công ty khác nhau là khác nhau và chủ yếu được nhập khẩu từ Pháp, Đan Mạch, Hà Lan để tạo ra các hương vị sản phẩm mang tính riêng biệt của từng Công ty. 
Trong sản xuất sữa bột, đã có những đổi mới trong công nghệ ở công đoạn sấy và chiết lon như chuyển sấy phun từ công nghệ gõ sang công nghệ thổi khí; bơm hỗn hợp khí Nitơ, khí Hydro vào trong quá trình đóng gói để hạn chế ôxy trong sản phẩm.                                                                                                                                                                                        
Về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm
Các doanh nghiệp lớn, có thương hiệu và hệ thống chế biến hiện đại trong ngành đã và đang xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO. Năm 1999, Vinamilk đã áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 và hiện đang áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Công ty TNHH TP & NGK Dutch Lady Việt Nam (nay là Công ty FrieslandCampina Việt Nam) nhận chứng chỉ ISO 9001 năm 2000 và chứng chỉ HACCP năm 2002. Công ty CP sữa Hà Nội nhận chứng chỉ ISO 9001:2000 và chứng chỉ HACCP năm 2004. Đến nay, một số Công ty đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng VSATTP theo tiêu chuẩn ISO 22.000. Hệ thống chất lượng ISO & HACCP là những tiêu chuẩn quốc tế chuẩn mực được áp dụng phổ biến hiện nay trên toàn thế giới cho các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm. Các tiêu chuẩn này thể hiện khả năng sản xuất và cung cấp các sản phẩm có chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao nhất cho người sử dụng. HACCP còn được xem là tấm vé thông hành cho các doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm.
Chất lượng sản phẩm được các Công ty quan tâm ngay từ khâu cung cấp nguyên liệu đầu vào. Với nguyên liệu sữa bột, các doanh nghiệp thường lựa chọn nhà cung cấp nguyên liệu là những nhà cung cấp hàng đầu, có uy tín trên thế giới. Với nguồn nguyên liệu sữa tươi, chất lượng sữa được kiểm tra ngay tại các hộ chăn nuôi và các đại lý trung chuyển sữa, áp dụng chế độ thưởng vào giá thu mua sữa cho các hộ có sữa chất lượng tốt. 
Toàn bộ các công đoạn sản xuất sữa được kiểm soát bởi đội ngũ kỹ sư và các chuyên gia giàu kinh nghiệm. Mọi sản phẩm được kiểm tra nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và hệ thống quản lý chất lượng ISO. Các lô sản phẩm được kiểm tra đầy đủ các chỉ tiêu vi sinh, hoá lý từ nguyên liệu đầu vào, bán thành phẩm và thành phẩm song song với việc lấy mẫu lưu. Hệ thống phòng thí nghiệm vi sinh, hoá lý có đủ các thiết bị để phân tích các chỉ tiêu và kiểm tra các thông số quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, vẫn còn các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, với nhà xưởng chật chội và thiết bị đóng gói đơn giản, đã nhập sữa bột (thành phẩm và bán thành phẩm) về đóng gói và bán trong khi không bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm không được kiểm tra, kiểm soát. 
Tiêu thụ
Thị trường sữa Việt Nam đang phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây và vẫn còn tiềm năng tăng trưởng. Sau khi đi ngang về tăng trưởng trong các năm 2011 và 2012 thì đến năm 2013, doanh thu toàn ngành đã bắt đầu tăng mạnh. Tốc độ tăng trưởng của ngành năm sau cao hơn năm trước, bình quân tăng 17%/năm trong giai đoạn 2011-2015.
Theo đánh giá của Euromonitor International, năm 2014, doanh thu ngành sữa Việt Nam đạt 75.000 tỉ đồng, tăng trưởng 20%. Cho đến năm 2015, tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 92.000 tỷ đồng, tăng trưởng 22,7% so với năm trước, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2010 (đạt 42 nghìn tỷ), là mức cao nhất trong lịch sử ngành. 
Chỉ trong vòng 6 năm từ 2008 – 2014, mức chi tiêu tháng của một người Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi từ 792 nghìn đồng lên đến gần 1,9 triệu đồng. Điều đáng chú ý, trong số bỏ ra chi tiêu, người Việt đang sử dụng ngày càng nhiều tiền hơn để chi cho ăn uống, mà sữa là một trong số đó. Trong gần 1,9 triệu đồng, mỗi người Việt có thể bỏ ra tới một nửa để chi cho ăn uống, một tỷ lệ đã cải thiện rõ rệt so với năm 2007.

Tăng trưởng doanh thu ngành sữa Việt Nam

 
Là một quốc gia đông dân và mức tăng dân số cao khoảng 1,2%/năm, thị trường sữa tại Việt Nam luôn được đánh giá là có tiềm năng lớn. Tỉ lệ tăng trưởng GDP 6%-8%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng 14,2%/năm, kết hợp với xu thế cải thiện sức khỏe và tầm vóc của người Việt Nam khiến cho nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa luôn giữ mức tăng trưởng cao. Lượng sữa tiêu thụ bình quân theo đầu người của Việt Nam năm 2015 đạt khoảng 23 lít/người/năm, trong khi đó năm 2010 đạt 12 lít/người/năm. Tính cả giai đoạn 2010 - 2015, trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 15 lít sữa/năm. Trong những năm tới, ngành sữa vẫn có tiềm năng lớn khi nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng trưởng 9%/năm, đạt mức 27-28 lít sữa/người/năm vào năm 2020, tăng gần gấp rưỡi so với hiện tại. Hiện mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người ở Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. 
Trong số các ngành hàng tiêu dùng nhanh, ngành hàng sữa, bao gồm sữa bột và sữa tươi, cũng đang chứng tỏ là một ngành tăng trưởng mạnh mẽ về doanh thu ở mức 2 con số. Và theo xu hướng chung của thị trường thế giới thì ngành sữa Việt Nam vẫn đang trong chu kỳ tăng trưởng. Có thể nói, thị trường sữa đang có những bước phát triển nhanh chưa từng thấy trong những năm gần đây với tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. Nhóm hàng sữa đã đóng góp 13% trong tổng doanh thu ngành hàng tiêu dùng. Nhưng, số lợi nhuận khổng lồ từ ngành sữa mang lại hiện đang phải chia thị phần cho các hãng sữa ngoại và các nhà cung cấp nguyên liệu nước ngoài. 
Thực tế, tiềm năng tiêu thụ của thị trường sữa Việt Nam được đánh giá là vẫn còn rất lớn và chưa dừng lại ở đây. 

Nguồn: Euromonitor International
Nếu như trước đây, nhìn vào các quầy kệ bán sữa bột trong siêu thị, dễ nhận thấy sự thống lĩnh của sữa ngoại dù giá liên tục tăng nhờ ưu thế về thương hiệu và nguồn lực. Nhưng vài năm gần đây, khoảng cách này được giảm đáng kể, nhiều hãng sữa nội trong nước đang giữ mức tiêu thụ tốt.
Giá trị mặt hàng sữa bột, theo ước tính, hiện chiếm 45% thị trường sữa Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,1% giai đoạn 2010-2013, nhưng đến 2014-2015 lại có xu hướng giảm, đặc biệt tiêu thụ sữa ở khu vực thành thị.
Nhập khẩu
Với số lượng bò sữa chăn nuôi thấp, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu sữa. Thời gian gần đây, dù tốc độ tăng trưởng đàn bò sữa của Việt Nam đạt cao nhưng vẫn là một trong 20 quốc gia nhập khẩu sữa nhiều nhất thế giới. Sau nhiều năm, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam liên tục tăng và đã vượt con số 1 tỷ USD vào năm 2013, đạt giá trị 1,1 tỷ USD, tăng 130% so với cùng kỳ năm trước đó. Vào năm 2014, đến năm 2015 kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa bắt đầu có dấu hiệu giảm xuống (với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 900,7 triệu USD, giảm 18% so với năm 2014). 

Kim ngạch nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa theo tháng

Đơn vị tính: Triệu USD

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Năm 2015, New Zealand vẫn là quốc gia cung cấp sữa chính cho Việt Nam với tỷ trọng 24% (tương đương 216,3 triệu USD), tiếp đến là Mỹ với tỷ trọng 14,6% (tương đương 131 triệu USD). Các thị trường cung cấp lượng sữa lớn khác cho Việt Nam là Singapore, Thái Lan, Đức, Ai Len, Úc, Hà Lan, Pháp, Nhật Bản… Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu sữa của Việt Nam dự kiến sẽ tăng mạnh, đạt 3,6 tỷ USD vào năm 2045.
Cơ cấu thị trường nhập khẩu sữa của Việt Nam trong 5 tháng năm 2016


Nguồn: Tổng cục Hải quan
Sữa tươi 100% nguyên chất ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, do số lượng đàn bò nội địa chỉ đủ cung cấp khoảng 30% nhu cầu cả nước. Ngay cả trong lượng sữa tươi thu mua của nông hộ thì 20-50% sữa đã không đạt chất lượng như yêu cầu (theo Báo cáo từ Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn). Ngoài ra, nguồn sữa tươi thu mua còn phải dùng vào nhiều sản phẩm khác, chứ không chỉ phục vụ riêng cho sản xuất sữa nước. 
Như vậy, việc thiếu hụt 70% lượng sữa cho chế biến và tiêu thụ đã khiến Việt Nam phải gia nhập nhóm 20 nước nhập khẩu sữa lớn nhất thế giới. Điều này ít nhiều đẩy ngành sữa Việt Nam vào thế phụ thuộc và rủi ro, đồng thời đẩy thế chủ động về khối ngoại. Mead Johnson, Abbotts và Friesland Campina là 3 nhà nhập khẩu sữa chính, chiếm 67% lượng sữa bột trên thị trường. 
Phần lớn lượng sữa bột nguyên liệu nhập vào Việt Nam được chế biến thành sữa hoàn nguyên. Điều này đã từng gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng khi tiêu thụ các sản phẩm sữa nước, họ không thể phân biệt đâu là sữa tươi đâu là sữa hoàn nguyên từ sữa bột.Các chủng loại sữa nhập khẩu vào Việt Nam hết sức đa dạng, bao gồm: bột whey đã cải biến, các sản phẩm sữa kem, sữa chua dạng lỏng, bơ, pho mát và curd, sữa và kem đã cô đặc, pho mát…

Kim ngạch nhập khẩu một số chủng loại sữa và sản phẩm sữa 5 tháng năm 2016

Đơn vị tính: USD

Sản phẩm

Tổng 5 tháng

Whey và Whey đã cải biến, đã hoặc chưa cô đặc hoặc pha thêm đường hoặc chất làm ngọt khác

10.822.059

Sữa và kem, đã cô đặc chưa pha thêm đường

36.764.916

Sữa và kem, đã cô đặc dạng bột hoặc hạt

72.006.024

Sữa và kem chưa cô đặc có hàm lượng chất béo trên 1% nhưng không quá 6% tính theo trọng lượng

4.500.223

Sữa chua dạng lỏng, đã hoặc chưa cô đặc

2.138.370

Pho mát và curd

3.570.738

Sữa và kem đã cô đặc loại khác

3.150.259

2.874.917

Bột whey

1.966.165

Sữa và kem chưa pha thêm đường

1.427.639

Sữa và kem có hàm lượng chất béo trên 10% dạng lỏng

1.504.564

Sữa và kem dạng bột, hạt có hàm lượng chất béo trên 1,5%

858.377

Chất béo khan của bơ

7.317.655

Buttermilk, sữa đông và kem đông, sữa chua, kephir và sữa, kem khác đã lên men hoặc axit hoá

821.272

Pho mát tươi (chưa ủ chín hoặc chưa xử lý), kể cả pho mát whey

751.616

Pho mát đã xát nhỏ hoặc đã làm thành bột, của tất cả các loại

1.706.561

Chất phết từ bơ sữa

309.792

Buttermilk

646.874

Sữa chua

459.314

Pho mát đã chế biến, chưa xát nhỏ hoặc chưa làm thành bột

429.110

Sữa và kem có hàm lượng chất béo không quá 1%

89.147

Pho mát đã xát nhỏ hoặc đã làm thành bột đóng gói với trọng lượng trên 20kg

93.825

Sữa và kem dạng bột, hạt chưa pha thêm đường

151.370


Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa của một số doanh nghiệp 5 tháng năm 2016

Đơn vị tính: USD

Doanh nghiệp

Tổng 5 tháng

Công ty TNHH Dinh Dưỡng 3A (Việt Nam)

81.221.349

Công ty TNHH Mead Johnson Nutrition (Việt Nam)

22.695.061

Công ty TNHH Friesland Campina Hà Nam

8.395.739

Công ty Cổ Phần Sữa Việt Nam

28.785.070

Công ty TNHH Fonterra Brands (Việt Nam)

8.676.717

Công ty TNHH FRIESLANDCAMPINA Việt Nam

9.633.897

Công ty Cổ Phần Đầu Tư Phát Triển Thương Mại Delys

6.187.739

Công ty TNHH Nestlé Việt Nam

17.647.840

Công ty TNHH  DKSH Việt Nam

1.312.589

Công ty Cổ Phần Thương Mại Và Công Nghệ Thực Phẩm Hoàng Lâm

3.871.214

Chi Nhánh Công ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Dịch Vụ Lê Mây Tại Hà Nội

600.628

Công ty TNHH Calpis Việt Nam

700.416

Công ty Cổ Phần Đại Tân Việt

64.566.748

Công ty Cổ Phần  Vận Tải Và Dịch Vụ Hàng Hải

1.821.985

Công ty TNHH BEL Việt Nam

1.807.575

Công ty Cổ Phần Sóng Thần Hà Nội

358.315

Công ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Dịch Vụ Lê Mây

885.648

Công ty Cổ Phần Vinalines Logistics - Việt Nam

598.160

Công ty TNHH Danone Việt Nam

998.530

Công ty TNHH Thực Phẩm Tốt Lành

1.842.231

Công ty TNHH Thương Mại Vạn An

1.109.682

Công ty TNHH Phân Phối Snb

633.919

Công ty TNHH V.I.P Việt Nam

315.838

Công ty TNHH Quốc Tế Mavi

919.958

Công ty TNHH Betagen Việt Nam

803.046

Công ty TNHH Châu Đại Dương

1.508.667

Công ty TNHH Phí Hưng

525.529

Công ty TNHH Jebsen & Jessen Ingredients Việt Nam

429.729

Công ty Cổ phần TRAPHACO

1.252.858

Công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Đức Nam

253.851

Công ty Cổ Phần Hsc Bắc Việt

572.176

Công ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Thuận Phát

144.263

Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Dinh Dưỡng Nutifood Bình Dương

2.886.848

Công ty TNHH Develing Quốc Tế (Việt Nam)

457.791

Công ty TNHH Dịch Vụ Và Thương Mại Mesa

308.561

Công ty TNHH Dinh Dưỡng Otsuka Thăng

298.072

Công ty TNHH PURATOS GRAND - PLACE VIệT NAM

361.961

Công ty TNHH sản xuất và thương mại Hoàng Hà

332.955

Công ty TNHH Một Thành Viên Thực Phẩm Đông Lạnh Việt I - MEI

100.318

Nguồn: Tổng cục Hải quan
Bên cạnh những thành quả đạt được, có thể thấy rằng, ngành sản xuất, chế biến sữa phát triển còn khá khiêm tốn so nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước và tiềm năng của phát triển của ngành. Quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ tạo nhiều cơ hội phát triển và xuất khẩu các sản phẩm nhưng cũng xuất hiện không ít thách thức đối với ngành, đặc biệt là sức ép cạnh tranh rất lớn.

1.2. Vị trí của ngành trong bức tranh chung của ngành tại khu vực
Ngành sữa thế giới chủ yếu tập trung ở các nước phát triển như Mỹ, New Zealand, Úc… và các sản phẩm thường được xuất khẩu sang các nước đang phát triển. Động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành sữa đến từ Trung Quốc và Châu Âu (tốc độ phát triển lên tới 20%/ năm). 
Ngành sữa đóng vai trò quan trọng trong trong hệ thống thực phẩm toàn cầu và cả trong sự phát triển bền vững của các khu vực nông thôn. Thực tế, ngành sữa đang đóng góp tích cực vào nền kinh tế của nhiều cộng đồng, khu vực và đất nước. Hiện nay, cầu về sữa ở thế giới đang có xu hướng tăng, thêm vào đó là nền công nghiệp đang có xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến sự gia tăng về phạm vi và mức độ của giao dịch sữa toàn cầu.
Ở khu vực Châu Á, Việt Nam đang nổi lên là một trong những quốc gia có ngành công nghiệp sản xuất, chế biến sữa phát triển năng động, đặc biệt là trong những năm gần đây. Cũng như nhiều quốc gia sản xuất, chế biến sữa khác, ngành sữa của Việt Nam cũng đang trong tình trạng thiếu cung phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu. 
Việt Nam là một đất nước vốn không có lịch sử phát triển chăn nuôi bò sữa mà xu hướng này mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Tính đến năm 2015, Việt Nam có hơn 275 nghìn con bò với tổng cộng 19 nghìn cơ sở chăn nuôi bò sữa. Chăn nuôi bò sữa cần vốn và công nghệ cao, tuy nhiên Việt Nam hiện nay hoạt động chăn nuôi chủ yếu thực hiện tại các hộ gia đình cá thể với quy mô nhỏ (dưới 20 con), người nông dân thiếu các kiến thức về chăn nuôi và phòng chống bệnh tật cho bò từ đó dẫn đến năng suất thấp, chi phí sản xuất cao và chất lượng sữa không đồng đều so với nhiều quốc gia khác.  
Theo Vietnam Industry Research and Consultant (VIRAC) thì Tây Âu có giá thành sản xuất vào khoảng 45-55 USD/100 kg. Còn ở Mỹ thì con số này vào khoảng 35-60 USD tùy theo mức độ phát triển của các vùng. Các nước như Argentina có thời tiết thuận lợi và đất nuôi thả rộng lớn nên có giá thành rẻ hơn. Giá thành sản xuất ở Châu Đại dương vào khoảng 36,6 USD/ kg, ở Úc vào khoảng 30-35 USD/100 kg và rơi vào khoảng 41-42 USD ở New Zealand. Sự khác biệt này là do sự khác nhau về giá thức ăn, giá đất và sự tăng giá của đồng NZD vào gần đây. New Zealand từng có 1 mức giá rất cạnh tranh (12 USD/ 100kg) tuy nhiên sự tăng giá đồng tiền và sự tăng giá của nguyên liệu đầu vào đã làm tăng mức giá lên gấp 3 lần. Nhìn chung thì chi phí sản xuất không biến động mạnh mẽ qua các thời kỳ. 
Theo Euromonitor, trong năm 2009, sản xuất sữa nguyên liệu từ đàn gia súc trong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 20-30% tổng mức tiêu thụ sữa. Ở Việt Nam, chỉ có 5% của tổng số bò sữa được nuôi tập trung ở trang trại, phần còn lại được nuôi dưỡng bởi các hộ gia đình ở quy mô nhỏ lẻ. Đến cuối năm 2009, có 19.639 nông dân chăn nuôi bò sữa với mức trung bình là 5,3 con bò mỗi trang trại. Hậu quả là các sản phẩm sữa của Việt Nam là một trong những nơi đắt nhất trên thế giới. Chi phí trung bình của sữa ở Việt Nam là 1,40 USD /lít, so với 1,30 USD /lít ở New Zealand và Philippines, 1,10-1,20 USD /lít tại Úc và Trung Quốc, và 0,90 USD /lít ở Anh, Hungary và Brazil.  Để xây dựng một hệ thống chăn nuôi bò sữa đạt chuẩn, doanh nghiệp phải đầu tư một số vốn rất lớn. Hơn nữa, muốn đáp ứng yêu cầu thị trường, các doanh nghiệp trong ngành sữa phải nhập khẩu công nghệ, nguyên liệu, thiết bị từ nước ngoài do kỹ thuật trong nước còn hạn chế ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm, doanh thu của doanh nghiệp. Các Công ty sữa phụ thuộc vào sữa bột nhập khẩu hơn là sản xuất sữa tươi trong nước. Sản xuất sữa phải đối mặt với sự mất cân bằng cung và cầu khi đàn bò sữa trong nước chỉ đáp ứng khoảng 20-30% tổng nhu cầu sữa trên toàn quốc. Sự phụ thuộc nhiều vào thị trường nước ngoài đối với nguyên liệu đầu vào tạo ra một nguy cơ chèn ép lợi nhuận do biến động giá của các sản phẩm sữa nhập khẩu. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt Nam nhập khẩu 72% của tổng sản phẩm sữa trong năm 2009, bao gồm 50% sữa nguyên liệu và 22% sữa thành phẩm. Mặt khác, từ sau khi gia nhập WTO, doanh nghiệp sữa Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh ngày một gia tăng do việc giảm thuế cho sữa ngoại nhập theo chính sách cắt giảm thuế quan của Việt Nam khi thực hiện các cam kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung trong Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (cam kết CEPT/AFTA) và cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tâm lý “sính ngoại” của người Việt cũng tác động tiêu cực đến số lượng tiêu thụ các sản phẩm sữa Việt Nam.
Nhưng đến năm 2014 thì số lượng bò sữa cả nước đã tăng lên gấp đôi so với năm 2008, chất lượng giống được cải thiện, sữa tươi đảm bảo an toàn thực phẩm và đang chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Năng suất sữa bò ngày càng tăng và cao hơn các nước khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc. So sánh với các nước trong ASEAN và Trung Quốc thì năng suất bò sữa của Việt Nam đang cao hơn. Tuy nhiên, so với Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan thì Việt Nam vẫn còn thấp hơn nhiều. Bởi Việt Nam không phải là nước có lợi thế trong chăn nuôi bò sữa, nhiệt đột thích hợp chăn nuôi bò sữa là từ 20-250C. Trong khi, cơ cấu thức ăn xanh cho bò sữa Việt Nam hiện vẫn chưa định hình. Số hộ chăn nuôi nhỏ và siêu nhỏ đang chiếm 66% số bò sữa. Sự liên kết của doanh nghiệp và hộ nông dân cũng chưa được thiết lập. Dự báo đến năm 2045, Việt Nam mới đạt được năng suất như Đài Loan hiện nay với 1 triệu bò sữa. Tuy nhiên tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi có hiệu quả là có sự gắn kết giữa hộ chăn nuôi với các doanh nghiệp thu mua, chế biến sữa. 
Tới năm 2015, chi phí sản xuất sữa của Việt Nam đã vượt lên mức trung bình của thế giới, trong điều kiện lĩnh vực chăn nuôi vẫn ở mức độ không tập trung và quy mô nhỏ (không đạt được lợi ích kinh tế theo quy mô), sản lượng thấp (12-15 lít/con bò/ ngày) và giá thức ăn chăn nuôi và thú y vẫn ở mức cao nhưng các doanh nghiệp đã phát triển tốt hơn các dây chuyền chế biến tiên tiến. Nhìn chung ngành sản xuất chế biến sữa nước ta hiện nay có trình độ thiết bị, công nghệ vào loại khá ở khu vực, đặc biệt có nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành có thiết bị và công nghệ hiện đại ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới. Do ngành mới phát triển nên nhu cầu về cập nhật, đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong ngành là rất lớn. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp lớn trong ngành đã quan tâm đến công tác đổi mới, cập nhật và đặc biệt là quản trị công nghệ thông qua các dự án xây mới và đầu tư mở rộng, nâng công suất nhà máy sử dụng thiết bị tiên tiến và công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó, đối với một số cơ sở sản xuất chế biến sữa có công suất thấp việc cập nhật công nghệ ở các cơ sở này chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn tình trạng thiết bị, công nghệ lạc hậu. Mặc dù ở một vài cơ sở sản xuất nhỏ, việc cập nhật, đổi mới công nghệ đã ít nhiều được quan tâm nhưng khái niệm về quản trị công nghệ thì còn rất xa lạ.Dù vậy, điều này vẫn dẫn đến tình trạng thiếu nguồn cung nguyên liệu sữa tươi cho ngành công nghiệp chế biến sữa của Việt Nam kéo dài nhiều năm và phải phụ thuộc khá lớn vào thị trường nhập khẩu.
Trong tương lai, Việt Nam cần tận dụng hiệu quả hơn đặc điểm địa lý và khí hậu nhiệt đới xen với vành đai ôn đới rất thuận lợi cho phát triển đàn bò sữa. Các đồng cỏ như Hà Tây, Mộc Châu, Bình Dương… cung cấp nguồn thức ăn dồi dào, phong phú và điều kiện sinh trưởng tốt.

2. Hiện trạng về doanh nghiệp trong ngành
- Số lượng và quy mô doanh nghiệp
Ngành sữa Việt Nam được đánh giá là đã có bước phát triển khá nhanh với chỉ 1-2 nhà sản xuất và phân phối sữa vào thời điểm trước những năm 1992 thì đến năm 2005 cả nước có 39 doanh nghiệp. Sau hơn 10 năm số doanh nghiệp này đã tăng gấp đôi. Tính đến năm 2016 đã tăng lên hơn 80 doanh nghiệp với hàng trăm nhãn hiệu, hầu hết đều đã tham gia là thành viên của Hiệp hội Sữa Việt Nam. Trong đó, các doanh nghiệp sản xuất sữa có quy mô vừa và lớn gồm 10 doanh nghiệp với tổng cộng 26 nhà máy chế biến sữa (trong đó riêng Vinamilk có 13 nhà máy) còn lại chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Bên cạnh đó là sự thâm nhập của các thương hiệu sữa nước ngoài như Abbott, Babysan, Dumex, Dutch Lady (Frieslandcampina), Meiji, Nestlé… Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất, chế biến sữa trong nước với các thương hiệu sữa nhập ngoại làm cho ngành sữa Việt Nam đứng trước các thách thức lớn nhưng cũng có không ít cơ hội để phát triển và chiếm lĩnh thị trường.
Các doanh nghiệp tham gia ngành sản xuất, chế biến sữa tại Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp nội.
Khối doanh nghiệp FDI giành phần lớn thị phần ở thị trường sữa bột và đang theo sát các doanh nghiệp nội thì ở thị trường sữa nước, đặc biệt là FrieslandCampina Việt Nam. Hãng này đã mạnh tay tổ chức đào tạo huấn luyện nhà phân phối, kết hợp với ngân hàng để tài trợ luôn vốn cho họ. Từ năm 2009, FrieslandCampina Việt Nam đã “đào” được một hệ thống kênh mạnh với 150 nhà phân phối và 100.000 điểm bán lẻ tại Việt Nam. Còn Abbott tiến thêm một bước khi thâu tóm nhà phân phối độc quyền là Công ty Dinh Dưỡng 3A vào năm 2012.
Trong số các doanh nghiệp nội, Vinamilk vẫn được khối ngoại xem là đối trọng lớn nhất. Vinamilk đang phát triển 9 trang trại quy mô lớn với toàn bộ bò giống nhập khẩu từ Úc, New Zealand và Mỹ. Sắp tới, Công ty này sẽ đưa vào hoạt động thêm 4 trang trại nữa. Họ còn liên kết với gần 8.000 hộ dân, thu mua sản lượng bình quân khoảng 500 tấn sữa/ngày. Vinamilk đang giữ gần 50% thị phần trong phân khúc sữa nước tại Việt Nam. Vinamilk cũng được biết đến là một Công ty không ngần ngại chi tiền cho quảng cáo, với chi phí tăng mạnh qua từng năm, từ mức quảng cáo/doanh thu chiếm 1,85% (năm 2011) lên đến 4,15% (9 tháng đầu năm 2015). Sự gia tăng này, mặt khác, cũng phản ánh thực trạng cạnh tranh khốc liệt trên thị trường sữa.
Vinamilk không còn bó gọn ở thị trường nội địa. Họ đã đặt mục tiêu trở thành một trong 50 Công ty sữa lớn nhất thế giới vào năm 2017 với doanh số hơn 3 tỷ USD. Công ty này phải suy tính nhiều giải pháp mang tính toàn cầu hóa, như rót vốn vào nhà máy Miraka ở New Zealand, sở hữu 70% cổ phần của nhà máy sữa Driftwood (Mỹ), đầu tư ở Ba Lan và đầu tư nhà máy tại Campuchia. Với việc phục hồi thị trường Iraq (thị trường xuất khẩu chính của Vinamilk) cùng kế hoạch thâm nhập thị trường Myanmar, doanh thu mảng xuất khẩu của Công ty trong năm 2016 có thể tăng 20% so với cùng kỳ, góp 22% vào tổng doanh thu.
Một công ty nội địa khác là TH True Milk cũng đang phấn khích tham gia vào cuộc đua mở rộng quy mô khi đầu tư 1,2 tỷ USD cho chuỗi sản xuất khép kín, gồm trang trại bò sữa, nhà máy và kênh phân phối. Tham vọng của Công ty này là đến năm 2017, sẽ có khả năng cung cấp 50% nguyên liệu sữa tươi. Nhưng với số lượng bò chỉ mới đạt 1/3 kế hoạch và thị phần sữa nước còn khiêm tốn (7,7%), TH True Milk có lẽ sẽ rất áp lực, nhất là thời gian đến khi TPP có hiệu lực không còn nhiều. Gần đây, họ vừa tuyên bố đầu tư 2,7 tỷ USD vào chuỗi sản xuất khép kín tại Nga, nhưng hiệu quả thì chưa thể đánh giá.
Vinamilk và TH True Milk được đánh giá là những doanh nghiệp tiên phong của ngành sữa nội địa Việt Nam. Với việc áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất thức ăn, chăn nuôi, thu hoạnh sản phẩm sữa đảm bảo năng suất, chất lượng sữa luôn ở mức cao và lợi thế quy mô, nên giá thành sản phẩm sữa của hai doanh nghiệp này cũng cạnh tranh hơn sữa của những trang trại nhỏ. Tỷ trọng của các doanh nghiệp này trong ngành còn thấp, nhưng đây sẽ là định hướng phát triển và mục tiêu của Việt Nam trong những năm sắp tới.
Đối với các Công ty quy mô nhỏ hơn như Nutifood, cách phát triển vùng nguyên liệu và bắt tay qua lại sẽ là chiến lược ưu tiên trong mục tiêu sống còn. Nutifood kết hợp cùng Hoàng Anh Gia Lai trong dự án phát triển vùng nguyên liệu sữa, giúp giá sữa dự kiến chỉ bằng một nửa so với giá thị trường. Nutifood sẽ đầu tư nhà máy, bao tiêu sữa của Hoàng Anh Gia Lai.
Trong khi đó, Công ty Sữa Quốc tế (IDP) định hướng phát triển theo hướng hợp tác với đối tác Úc để làm sữa tươi nguyên chất. Bởi trong các chia sẻ của mình, Tổng Giám đốc IDP Trần Bảo Minh luôn nhấn mạnh, trừ một số vùng như Ba Vì, điều kiện tự nhiên ở Việt Nam ít thích hợp với nuôi bò sữa. Cốt lõi trong cuộc cạnh tranh lớn là từ vùng nguyên liệu và trình độ của người nông dân. Một lần nữa, các chuyên gia rất lưu tâm về viễn cảnh nông dân có thể phải đối mặt với việc rời bỏ sân chơi bò sữa khi sữa nguyên liệu ngoại nhập dự báo sẽ giảm giá và tràn vào Việt Nam sau TPP.
Trước sức tấn công của sữa ngoại, những Công ty quy mô nhỏ như IDP cũng đang tìm kiếm thêm cơ hội từ những sản phẩm sữa mới, khác biệt, chất lượng. Thực tế chứng minh việc tập trung vào nhóm các ngành sữa khác như sữa đậu nành, sữa bắp là cách để các Công ty đi sau, quy mô nhỏ hơn, có được chỗ đứng trên thị trường.
- Danh sách các doanh nghiệp lớn trong ngành:
1. Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk)
2. Công ty Abbott Nutrition Việt Nam
3. Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội (Hanoimilk)
4. Công ty TNHH Mead Johnson Nutrition (Việt Nam)
5. Công ty Cổ phần Sữa Quốc tế (IDP)
6. Nhà máy sữa Đậu nành Việt Nam
7. Công ty Cổ phần Sữa Ba Vì
8. Công ty FrieslandCampina Việt Nam
9. Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu
10. Công ty CP Sữa Sức sống Việt Nam (VitaDiary)
11. Công ty TNHH Nestle Việt Nam
12. Công ty Cổ phần Thực phẩm Hanco
13. Công ty Cổ phần Sữa  TH Truemilk
14. Công ty TNHH Yakult Việt Nam
15. Công ty TNHH Vietnam Foremost
3. Hiện trạng về thị trường xuất khẩu
Ngành sữa Việt Nam trong những năm qua đã liên tục phát triển và phát triển theo đúng hướng. Từ chỗ phải nhập khẩu hoàn toàn, đến nay Việt Nam đã có thể xuất khẩu sữa tới hơn 40 thị trường nước ngoài. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia tại Châu Á có xuất khẩu sữa. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sữa hàng năm của Việt Nam nhìn chung còn ở mức thấp, chỉ đạt trên dưới 100 triệu USD. Năm 2014, Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm sữa trị giá hơn 92,8 triệu US, thấp hơn con số 115,5 triệu USD của năm trước đó, tăng gần gấp 3 lần so với năm 2010, trong đó Vinamilk chiếm đa số tới 90%. Điều này minh chứng rằng sản phẩm sữa trong nước sản xuất đang dần chiếm trọn niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam và có nhiều cơ hội vươn tầm ra thị trường sữa thế giới.
Những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu sản phẩm sữa giảm do những bất ổn tại thị trường Trung Đông nhưng vẫn đạt mục tiêu trong quy hoạch đề ra. Các Công ty xuất khẩu sữa (chủ yếu là Vinamilk) vẫn duy trì thị trường truyền thống (Trung Đông và Đông Nam Á), đồng thời phát triển các thị trường mới tại Châu Phi và Trung Mỹ. Các sản phẩm sữa Việt được xuất khẩu khá đa dạng, bao gồm: sữa bột, bột dinh dưỡng, sữa đặc, sữa nước, sữa đậu nành, yogurt, bột váng sữa, váng sữa, dầu bơ, bột sữa gầy, bơ, phô mai…
Kim ngạch xuất khẩu sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014

Nguồn : Tổng Cục Thống kê
Hai Công ty Việt Nam có năng lực xuất khẩu mạnh các sản phẩm sữa sản xuất trong nước là Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) và Friesland Campina Việt Nam (thương hiệu Cô gái Hà Lan). 
Năm 1998, Vinamilk bắt đầu xuất khẩu những sản phẩm sữa bột đầu tiên vào khu vực Trung Đông, với thị trường chủ yếu là Iraq theo chương trình đổi dầu lấy lương thực của Liên hợp quốc. Lượng sữa xuất khẩu năm 1998 của Vinamilk đạt gần 9.000 tấn. Đến nay qua nhiều năm nỗ lực tìm kiếm thị trường, tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, hiện sản phẩm của Vinamilk đã được xuất khẩu đến 43 nước trên thế giới.
Năm 2015, Vinamilk đạt hơn xuất khẩu hơn 47.000 tấn sữa, tăng trưởng khoảng 430% so với năm 1998 - năm đầu tiên Vinamilk tham gia hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu đóng góp khoảng 13% vào tổng doanh thu hợp nhất của công ty. Trong những năm gần đây, công ty tiếp tục duy trì xuất khẩu đi các thị trường truyền thống tại khu vực Trung Đông và Đông Nam Á, tập trung khai phá các thị trường tiềm năng ở khu vực châu Phi và đặc biệt là các thị trường đòi hỏi sản phẩm chất lượng cao như Nhật Bản, Canada.




Doanh nghiệp trong ngành
Phân tích và Báo cáo
Ý kiến chuyên gia về môi trường đầu tư của ngành
Tìm hiểu về các địa phương, vùng nguyên liệu và khu công nghiệp thông qua hệ thống bản đồ cập nhật và chính xác